Bảng chỉ số cân nặng, chiều cao của trẻ và 8 yếu tố quyết định tầm vóc

Bảng chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ và 6 yếu tố quyết định tầm vóc

Có thể bạn quan tâm: Tính ngay chỉ số BMI của bé

Con yêu cao lớn và phát triển hàng ngày luôn là mong mỏi của bậc làm cha mẹ. Chính vì như vậy, việc so sánh chiều cao cân nặng của bé với bảng chiều cao cân nặng chuẩn của trẻ mới nhất là một trong các yếu tố quan trọng giúp mẹ nhận dạng được hiện trạng sức khỏe và thể chất của bé yêu để có sự can thiệp kịp thời là điều rất cần thiết.

Trong bài viết này, Blog Cây Thuốc mời các bạn cùng tham khảo bảng chiều cao cân nặng chuẩn của bé từ sơ sinh cho đến 10 tuổi để có thể phần nào đánh giá được sự phát tăng trưởng và phát triển của con yêu.

Bảng chiều cao, cân nặng bé gái chuẩn mới nhất

Dưới đây là bảng chiều cao cân nặng của bé gái chuẩn mới nhất tính từ lúc sơ sinh cho đến khi bé được 10 tuổi. Bạn hãy đối chiếu chiều cao cân nặng của bé yêu căn cứ vào bảng số liệu này để có thể nhận diện được mức tăng trưởng của con qua từng thời kỳ.

Bảng chiều cao, cân nặng chuẩn của bé trai

Sau đây là bảng chiều cao cân nặng của bé trai chuẩn mới nhất tính từ khi sơ sinh cho tới khi bé được 10 tuổi. Để phần nào có thể đánh giá được mức tăng trưởng của con qua từng thời kỳ, bạn hãy đối chiếu chiều cao cân nặng của bé yêu căn cứ vào bảng số liệu này:

Các tin tức chung về chỉ số tăng trưởng chiều cao, cân nặng của trẻ từ 0-10 tuổi

Sự phát triển thể chất của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ được xem là điều cực kỳ lý thú với nhiều đổi mới đáng bất ngờ. Bạn cần theo dõi sát sao sự tăng trưởng của trẻ, cả về cân nặng lẫn chiều cao để nhận diện những chuyển biến về nhu cầu và sức khỏe của con yêu.

  • Trẻ mới sinh: Theo bảng cân nặng trẻ sơ sinh năm 2021, trẻ mới sinh dài trung bình 50cm, nặng 3,3kg. Theo Trung tâm Quốc gia về Thống kê Y tế Mỹ, chu vi vòng đầu của bé trai là 34,3cm và bé gái là 33,8cm.
  • Chào đời – 4 ngày tuổi: trong khoảng thời gian này, cân nặng của trẻ sơ sinh giảm xuống khoảng 5 – 10% so với lúc mới sinh. Căn nguyên là bé bị tình trạng mất nước và dịch của cơ thể khi bé tiểu và đại tiện.
  • 5 ngày – 3 tháng tuổi: Trong suốt khoảng thời gian này, mỗi ngày, cân nặng trẻ sơ sinh sẽ tăng trung bình khoảng 15 – 28g. Do vậy, sau 2 tuần tuổi, cân nặng của bé yêu sẽ nhanh chóng trở về mức như lúc sinh.
  • 3 – 6 tháng tuổi: Mỗi 2 tuần, bé sẽ tăng lên khoảng 225g. Khi được 6 tháng, cân nặng của trẻ sẽ đạt gấp đôi so với lúc mới sinh.
    • 7 – 12 tháng: Cân nặng của trẻ sẽ tiếp tục tăng khoảng 500g/tháng. Với các bé bú mẹ, cân nặng của trẻ sẽ tăng lên không nhiều bằng so với mốc này. Trong giai đoạn này, bé yêu tiêu tốn rất nhiều calorie vì con đã bắt đầu vận động nhiều hơn khi đã học lật, bò, trườn, thậm chí là tập đi. Trước khi bé tròn 1 tuổi, trung bình chiều cao cân nặng của trẻ sẽ ở khoảng 72-76cm và nặng gấp 3 lần lúc mới sinh.
  • 1 tuổi (tuổi tập đi): Sự tăng trưởng và phát triển của bé không nhanh như thời kỳ trước nhưng mỗi tháng cân nặng vẫn có thể tăng lên khoảng 225g và chiều cao tăng lên khoảng 1,2cm.
  • 2 tuổi: Trẻ sẽ cao thêm khoảng 10cm và cân nặng tăng thêm khoảng 2,5kg so với lúc 1 tuổi. Lúc này, y sĩ nhi khoa có thể đưa ra những dự đoán chính xác hơn về chiều cao cân nặng của trẻ khi lớn lên.
  • 3 – 4 tuổi (tuổi mẫu giáo): Theo những chuyên gia, lúc này lượng mỡ trên cơ thể trẻ, cụ thể là ở mặt, sẽ giảm đi nhiều. Lúc này, tay chân của trẻ đã nâng cao hơn rất nhiều so với khoảng thời gian trước đó nên trông bé có vẻ cao ráo hơn.
  • 5 tuổi trở lên: Từ độ tuổi này cho tới thời kỳ dậy thì, chiều cao của bé sẽ phát triển rất nhanh. Bé gái thường sẽ đạt được chiều cao tối đa khoảng 2 năm sau kể từ kỳ kinh nguyệt trước tiên. Bé trai cũng đạt được chiều cao ở tuổi trưởng thành khi tới tuổi 17.

6 yếu tố ảnh hưởng đến chiều cao – cân nặng của trẻ

1. Yếu tố gen di truyền

Khi đứa trẻ sinh ra, con nhận được đầy đủ các đặc điểm di truyền từ bố và mẹ. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, yếu tố di truyền có một tác động lớn đến sự phát triển và kích cỡ của các cơ quan trong cơ thể.
Họ còn tiến hành nhiều nghiên cứu và phát hiện ra rằng, yếu tố nhóm máu, lượng mỡ thừa cơ thể và cân nặng của bố mẹ cũng tác động không nhỏ tới sự phát triển thể chất của trẻ. Nghiên cứu này đăng trên trên tạp chí Sinh học ở người tại Mỹ (American Journal of Human Biology). Tuy thế, bạn cần nhớ rằng, chiều cao của trẻ thường chỉ chịu tác động khoảng 23% từ yếu tố di truyền mà thôi.

2. Dinh dưỡng và không gian sống

Bạn có biết, ngoài gen di truyền, chiều cao cân nặng còn tùy vào nhiều yếu tố khác nữa. Theo công trình nghiên cứu của Đại học liên hợp quốc tại Tokyo, Nhật Bản, yếu tố môi trường bên ngoài như dinh dưỡng là điều rất cần thiết đối với sự phát triển thể chất của trẻ. Chẳng hạn, hiện trạng suy dinh dưỡng có thể làm chậm quá trình phát triển thể chất. Nó không những tác động nhiều tới mật độ xương và độ chắc khỏe của răng, kích cỡ các cơ quan trong cơ thể mà còn làm trì hoãn khả năng phát triển của trẻ ở tuổi dậy thì và tiền dậy thì.

Nếu được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, bé có thể bắt kịp sự phát triển mà đáng lẽ bé phải đạt được trước đó. Do đó, bạn cần cung cấp đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ trong mỗi giai đoạn, đặc biệt là canxi để con yêu có thể cải thiện chiều cao. Bên cạnh chế độ ăn uống, các yếu tố môi trường khác như: khí hậu, ô nhiễm môi trường cũng làm chậm quá trình phát triển thể chất ở trẻ.

 

3. Các bệnh lý kinh niên

Các bệnh lý kinh niên, khuyết tật nghiêm trọng hay từng giải phẫu cũng được xem là nhân tố gây ảnh hưởng xấu lên thể chất của trẻ. Theo một công trình nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí y khoa Hoa Kỳ nổi tiếng mang tên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Quốc gia vào tháng 1/2000, trẻ nhỏ có tiền sử mắc căn bệnh nghiêm trọng như thiếu máu hồng cầu hình liềm từ 8 – 19 tuổi thường thấp bé, nhẹ cân hơn rất nhiều so với trẻ mạnh khỏe. Song song đó, sự phát triển về sinh lý hay sức khỏe sinh sản của trẻ thời kỳ dậy thì, vị thành niên cũng bị rối loạn và trì hoãn.

4. Sự chăm sóc, thân thiện của bố mẹ

Nghiên cứu tại Viện quốc gia về Sức khỏe trẻ nhỏ và Sự phát triển con người (Hoa Kỳ) cho thấy rằng, sự chăm sóc của bố mẹ lẫn những người không cùng huyết thống (người giữ trẻ) là một yếu tố tác động lớn tới việc phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, hành vi và xúc cảm của một đứa trẻ từ lúc sinh ra tới tuổi dậy thì.

5. Sức khỏe của mẹ bầu trong thời kỳ mang thai và cho con bú

Sức khỏe của mẹ bầu trong giai đoạn mang thai có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ sau này. Nghiên cứu cho thấy mẹ bầu thường xuyên gặp căng thẳng có khả năng tác động đến sức khỏe tinh thần, phát triển trí tuệ và đặc biệt làm chậm quá trình phát triển kỹ năng vận động (khả năng điều khiển chân tay) ở trẻ con.
Ngoài ra, chế độ ăn của mẹ đủ dưỡng chất cần thiết như sắt, a-xit folic, canxi, các axit béo thiết yếu như DHA trong giai đoạn cho con bú góp phần giúp bé phát triển tốt hệ cơ xương và sức đề kháng. Điều đó giúp trẻ mạnh khỏe và ít bệnh tật.

6. Vận động tích cực và quá trình luyện tập thể thao

Một thực tế dễ nhận thấy ở trẻ em bây giờ là tình trạng lười vận động và hay thức khuya. Với sự phát triển bùng nổ của công nghệ, hình ảnh trẻ con chơi đùa, chạy nhảy, đá cầu, đá bóng ngày càng ít đi, thay vào đó là hình ảnh của những cô cậu nhỏ dán mắt vào màn hình điện thoại, ipad hay tivi. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển hệ cơ xương khớp của trẻ lẫn thần kinh. Cho nên, bạn nên khuyến khích trẻ tham dự nhiều hơn nữa các môn thể thao giúp nâng cao chiều cao như bóng rổ, bơi lội, đạp xe, bóng chuyền, nhảy dây…

Đối với những trẻ béo phì, việc tích cực vận động còn giúp con lấy có được cân nặng lý tưởng, giảm thiểu nhiều bệnh lý như tiểu đường, tim mạch ở trẻ. Bên cạnh đó, việc trẻ thức khuya còn khiến chất lượng giấc ngủ bị ảnh hưởng rất lớn. Một giấc ngủ sâu và đủ giúp hỗ trợ đẩy mạnh mật độ xương và có thể phát triển chiều cao của bé.

Sự phát triển chiều cao cân nặng hay thể chất ở trẻ là điều kiện cần cho sức khỏe của con nhưng điều đó vẫn là chưa đủ. Bên cạnh phát triển thể chất chiều cao cân nặng của trẻ, bạn cũng đừng quên tẩm bổ đời sống tinh thần và sức khỏe trí óc của con yêu nhé!

Các bài viết của Blog Cây Thuốc chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc chữa trị y khoa.

 

Tác giả bài viết: Blogcaythuoc